Để duy trì, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, Công viên Thiên đường Bảo Sơn đã dành trên 10.000 ha để xây dựng khu làng nghề. Tại đây gồm có 13 làng nghề truyền thống, quý khách khi đến tham quan công viên sẽ được trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và mua sắm các sản phẩm thủ công tinh xảo. Các làng nghề truyền thống ở đây bao gồm:
1- LÀNG NGHỀ MÂY TRE ĐAN
Sản phẩm được làm chủ yếu từ cây guột tế, một loại cỏ mọc hoang ở rừng nhiệt đới miền Bắc Việt Nam. Khoảng tháng 10 hàng năm là mùa cây guột cho khai thác. Người ta cắt lấy phần ngọn, còn chừa gốc để đến mùa xuân, nó lại tự mọc lên tươi tốt. Đây là nguồn nguyên liệu tự nhiên rất quý giá đối với người dân làm nghề ở xã Phú Túc. Nghề đan cỏ guột tế giống như nghề đan lát mây, tre, nhưng sợi guột tế có ưu thế về màu đỏ nâu tự nhiên rất đẹp. Để sản phẩm bền màu và tươi tắn hơn, người ta chỉ cần phun một nước dầu bóng mà không cần phải ngâm với bất kỳ loại hoá chất độc hại nào. Hơn nữa, nó mềm mại, dẻo dai, nên dễ tạo thành nhiều hình thù khác nhau và đặc biệt có độ bền cao.Với sự năng động của người làng nghề, họ cải tiến mẫu mã, làm ra những sản phẩm thủ công đa dạng như: các con giống ngộ nghĩnh, lẵng hoa xinh xắn, những chiếc làn đủ hình thù, kích cỡ... Sản phẩm từ guột tế có nguồn gốc từ thiên nhiên nên thân thiện với môi trường, phù hợp với xu hướng tiêu dùng của khách hàng trong nước và quốc tế nên được khách hàng đón nhận nồng nhiệt.

2- LỤA VẠN PHÚC
Đây là một làng nghề dệt lụa tơ tằm thủ công truyền thống đẹp nổi tiếng từ xa xưa, có nhiều mẫu hoa văn và lâu đời bậc nhất Việt Nam. Lụa Vạn Phúc từng được chọn may quốc phục dưới các đời vua Việt Nam.
Lụa Vạn Phúc có chất liệu mềm mại và độ tinh xảo trong từng đường tơ, từng họa tiết trang trí nên rất được ưa chuộng và đã có mặt rộng rãi trong nước và vươn ra thị trường châu Âu, châu Á, Mỹ, Nhật Bản và nhiều nước khác trên thế giới. Lụa Vạn Phúc được vinh dự chọn may áo dài cho các vị lãnh đạo đến tham dự Apect Việt Nam lần thứ 14 năm 2006
Lụa Vạn Phúc không chỉ đẹp về mẫu mã, tinh xảo về đường nét kỹ thuật mà còn phong phú đa dạng về thể loại với trên 70 mặt hàng: lụa, là, gấm, vóc, the, lĩnh, bằng, quế, đoạn, sa, đũi, kỳ cầu...
Ðể tạo ra những sản phẩm tơ lụa tuyệt hảo, những người thợ Vạn Phúc đã tiến hành một quy trình kỹ thuật phức tạp gồm nhiều công đoạn như:
1. Nghiên cứu sản xuất trứng giống tằm
2. Canh tác cây dâu và nuôi tằm (sản xuất kén tằm)
3. Ươm tơ
4. Chế biến các loại phế liệu tơ kén tằm
5. Xe tơ
6. Dệt lụa
7. Nhuộm tơ.
8. Sản phẩm từ lụa: thời trang (Quần áo nam nữ), phụ trang (khăn, túi, mũ, giầy dép....), sản phẩm trang trí nội thất (rèm, ga, gối...)

3- TRANH ĐÁ QUÝ LỤC YÊN
Tranh đá quý Lục Yên xuất hiện khoảng đầu năm 2000 tại tỉnh Yên Bái, nơi có mỏ đá quý với trữ lượng lớn, đa dạng như đá trắng, cẩm thạch, đá ruby, saphia,... và các loại đá màu khác.
Đặc điểm của các loại tranh đá quý là màu sắc không nhuộm, không phai màu, tồn tại vĩnh viễn với thời gian. Nguyên liệu đá quý thiên nhiên được tuyển chọn để làm tranh phải được phân loại chính xác về độ đậm nhạt của màu, sắc thái khác nhau của viên đá và xay nghiền, đánh bóng để có sự phù hợp hoặc tạo dáng cho tranh. Đá quý được khai thác từ các mỏ đá quý nổi tiếng ở Việt Nam và được bảo đảm độ bền, độ sắc xảo của màu sắc. Chất keo kết dính được nhập từ nhật, Hàn Quốc, Ý, Nga, và nền tranh được làm bằng chất liệu mica, gỗ, sơn mài, composit nhập từ Đài Loan. Bức tranh sau khi được hoàn tất được Viện đá quý và trang sức Việt Nam kiểm định cấp chứng chỉ mới được đưa ra thị trường.
Đầu tiên phải có nguyên liệu thô là đá màu to nhỏ khác nhau, ngâm trong nước có pha một ít a xít rồi đánh sạch bằng xà phòng, tiếp đến chúng được phân loại, rồi đem nghiền thành những kích cỡ mắt cua, mắt tôm. Sau đó bức tranh được tạo bằng cách dùng kim khắc đính chìm lên tấm phoócmica. Đặt những viên đá to hơn vào làm đường viền, đổ keo để cố định nét vẽ. Tiếp đến trộn nhiều loại đá có màu sắc khác nhau để hình thành nên những mảng màu theo ý muốn và rắc lên trên những phần đã cố định, dùng keo dán cố định lại. Cuối cùng là hoàn thiện bức tranh với công đoạn làm nền cho cả bức vẽ. Để có được một bức tranh cỡ bằng bàn tay có khi phải dùng tới hàng vạn viên đá nhỏ từ hàng chục loại đá màu khác nhau. Vì thế giá thành của mỗi bức tranh có thể khác nhau do từng chất liệu đá.
Bằng sự kết hợp tuyệt hảo giữa các loại đá quý thiên nhiên như: Ruby, Sapphire, Tourmaline, Opal, Garnet, Zircon, Quartz... với muôn cung bậc màu sắc rực rỡ được khai thác từ chính thiên nhiên đất Việt, với sự khéo léo, tài hoa, tinh tế của đội ngũ các nghệ nhân lành nghề Việt Nam đã tạo ra những tác phẩm nghệ thuật hoàn mỹ, sống động và mới lạ, lung linh và huyền ảo như mang hồn ngàn năm của đá quý tạo lên thương hiệu đá quý Lục Yên được người tiêu dùng trong nước và trên thế giới ưa chuộng

4- LÀNG THÊU QUẤT ĐỘNG
Làng thêu Quất Động nổi tiếng nhờ đạt đến trình độ tinh xảo và kỹ thuật điêu luyện.
Thêu là một nghề thủ công đòi hỏi người thợ phải có đôi bàn tay khéo léo, tài hoa, đôi mắt tinh tường cộng với bộ óc tinh tế và đức tính cẩn thận, cần mẫn. Những đức tính, năng khiếu là yêu cầu cơ bản đối với mỗi thợ thêu, nhằm tạo ra sản phẩm hợp màu sắc và hoa văn trên nền lụa, vải.
Đối với nghề thêu, công phu nhất vẫn là thêu các đường lượn, đường viền, các khối hình, thêu nổi gân lá, đài hoa, mắt phượng... Người thêu phải khéo léo làm cho những sợi chỉ hòa quyện, mịn màng như một thể thống nhất, không một lỗi chân chỉ hay trái canh. Đường chỉ càng điêu luyện, mịn màng, chân chỉ càng lẩn bao nhiêu, sản phẩm càng có giá trị cao, nghệ thuật thẩm mỹ càng đến độ tuyệt vời.
Lao động của người thợ thêu không khác gì lao động của một nghệ sĩ dân gian, một họa sỹ tài năng. Chỉ bằng dụng cụ đơn giản, tay kim, sợi chỉ màu, hình mẫu, những tác phẩm hoàn chỉnh từ từ hiện lên mềm mại, sống động, tươi tắn và kiều diễm như thật. Một số nghệ nhân còn thêu được những tác phẩm nghệ thuật, các bức thêu truyền thần và sáng tạo những tác phẩm theo mẫu mới.
Hàng thêu của Quất Động đã xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới như: Liên minh châu Âu, Hồng Công, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Mỹ... Tranh thêu nghệ thuật truyền thống của dân tộc Việt Nam đã làm nên sức sống trong lòng người yêu tranh, với những bức tranh mang đậm hồn quê với cây đa, giếng nước, sân đình thơ mộng và hiền hòa. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, một làng nghề thêu tranh như Quất Động phát triển được không phải là chuyện dễ dàng. Để làm được điều đó, Quất Động đã biết cách kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố truyền thống với hơi thở thời đại, làm hồi sinh một dòng tranh nổi tiếng, một làng nghề tưởng chừng như chỉ còn trong những câu chuyện huyền thoại.

5- ĐẬU BẠC ĐỊNH CÔNG
Đậu bạc là một trong số ít nghề cổ của đất Thăng Long còn tồn tại đến ngày nay.
Nghề đậu bạc có từ thế kỷ thứ VII. Nghề đậu bạc biểu trưng cho sự tinh xảo của nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, hoàn toàn làm thủ công và không thể thay thế bằng máy móc. Ngoài đôi bàn tay khéo léo, người thợ đậu bạc phải có con mắt thẩm mỹ cao và sự kiên nhẫn vô bờ mới có thể làm được một tác phẩm hoàn hảo.
Trước tiên, người thợ kim hoàn phải nấu bạc thành thoi sau đó cán kéo và rút thành từng sợi nhỏ như sợi chỉ hoặc tóc. Tiếp đến họ xe hai hoặc ba sợi giống như sợi dây thừng rồi dùng sợi này uốn thành những họa tiết nhỏ như cành hoa, con bướm, hoa bèo, hoa phù dung... Kỹ thuật đậu cũng làm ra những hạt bạc nhỏ li ti rồi dùng vẩy hàn gắn kết lại với nhau thành các vật phẩm.
Để có được một sản phẩm bạc đậu, những người thợ phải mất tới hàng chục ngày công với những thao tác công phu, tỉ mỉ. Người thợ đậu có tay nghề cao là khi tất cả các hoa văn đính trên sản phẩm phải đều nhau, không được lộ ra những mối hàn.
Nhiều sản phẩm của làng nghề như hộp quạt Xuân Hương... đã đạt giải thưởng ASEAN giành cho tác phẩm xuất sắc về nghệ thuật và thủ công mỹ nghệ các nước trong khối ASEAN tổ chức năm 2008 và là tác phẩm duy nhất của Việt Nam đoạt giải.

6- TƯỢNG SƠN ĐỒNG
Nghề tạc tượng ở Sơn Đồng có từ hơn 300 năm nay.
Sản phẩm chủ yếu của làng nghề điêu khắc gỗ Sơn Đồng là các tượng Phật, đức Thánh, người anh hùng, các linh vật thờ như ông Ngựa, ông Hạc, hoành phi, cuốn thư, câu đối, ban thờ... tất cả được sơn son thếp vàng, thếp bạc lung linh mang những nét thiêng liêng.
Nguyên liệu để tạc tượng là gỗ mít. Theo quan niệm dân gian, đấy là loại gỗ "thiêng" thích hợp cho việc chế tác đồ thờ cúng. Gỗ mít có đặc tính dẻo, mềm, thớ dăm nên có độ bền cao, ít nứt nẻ, dễ gọt, tránh được những sơ suất khi đục đẽo. Từ việc đục tách bỏ một khối gỗ để lấy ra một pho tượng là một quá trình sáng tạo đầy sức hấp dẫn. Tuy trong quá trình chế tác có những nét chung, nhưng mỗi nghệ nhân đều có những bí quyết riêng để mỗi sản phẩm đều ẩn chứa những sắc thái độc đáo của mỗi nghệ nhân. Kỹ thuật sơn son thếp vàng cũng kỳ công như nghệ thuật sơn mài. Khi nước sơn lên bóng thì mới dán vàng, dán bạc.
Để có được những sản phẩm độc đáo tinh khôi, phải kể đến phẩm hạnh của người thợ, mà nét tiêu biểu là cái "tâm", trong đó nổi bật là tâm đức, tâm hồn và tâm linh. Tạo tác ra những bức tượng Phật, tượng Thánh, ông Hạc, ông Ngựa, cuốn thư, hoành phi câu đối, trang trí trên đó long, ly, quy, phượng... thợ điêu khắc Sơn Đồng phải hiểu cội nguồn sâu xa của từng sản phẩm, phẩm chất linh hồn của vị Phật, vị Thánh để dân tôn thờ. Họ còn phải học hỏi tâm đức từ các vị để nâng cao tâm hồn, có ý thức tâm linh để nâng cao tay nghề, nâng cao giá trị sản phẩm.
Các sản phẩm đồ thờ, ô xa, hoành phi, câu đối của làng Sơn Đồng đã được đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ đặt để giới thiệu với bạn hàng nhân dịp Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm Mỹ.


7. SỪNG THỤY ỨNG
Làng nghề sừng của Thụy Ứng đã có cách đây gần bốn trăm năm.
Sản phẩm được làm từ sừng trâu non.
Để làm ra mỗi sản phẩm, các nghệ nhân phải qua tới trên ba mươi công đoạn từ khi mua sừng về cắt thành ống, hơ ép, réo thành khuôn... rồi mới cắt răng, chà lát, đánh bóng. Mỗi công đoạn đều đòi hỏi người thợ phải thật khéo tay, tinh mắt. Làm sừng rất khó bởi "không chiếc nào giống chiếc nào" và người thợ phải tùy theo từng chiếc sừng mà hơ, ép, pha, cắt; sừng trâu non uốn khỏi tay lại vênh, có cái sừng phải uốn tới cả chục lần, nhưng khó nhất vẫn là lúc tạo dáng.

8. DỆT THỔ CẨM
Thổ cẩm là một phần không thể thiếu trong đời sống vật chất - tinh thần của đồng bào dân tộc vùng cao Việt nam. Những tấm thổ cẩm thể hiện sự khéo léo tài hoa của người phụ nữ, là nơi gửi gắm ước mơ, khát vọng, cũng là nơi dệt nỗi nhớ thương. Vì vậy, thổ cẩm không chỉ quan trọng trong cuộc sống vật chất hàng ngày của bà con mà còn là linh hồn, là nét văn hoá không thể thiếu. Thổ cẩm là loại vải chủ yếu để may quần áo, khăn và các vật dụng trong gia đình như chăn, địu, tấm trải gối, trải giường... Ngày nay, thổ cẩm đã đi vào đời sống của người Việt Nam khi nó trở thành chất liệu để làm đồ trang trí nội thất, những chiếc túi xách hay túi đựng điện thoại xinh xắn. Chất liệu này mặc rất thoáng, mát, thấm mồ hôi và đặc biệt là màu sắc vô cùng phong phú, thể hiện tính đa dạng trong văn hoá các dân tộc Việt.
Giá trị của tấm thổ cẩm chính là những nét hoa văn tinh tế thể hiện mọi mặt của cuộc sống đời thường, từ núi cao, rừng sâu, con suối đến những công cụ dùng trong sinh hoạt hàng ngày, hay đơn giản chỉ là một bông hoa dại trên triền núi. Trong hành trang về nhà chồng của các cô gái dân tộc vùng cao không thể thiếu bộ váy, áo dệt từ thổ cẩm. Những bộ váy, áo này chỉ được mặc trong các dịp "đặc biệt" như ngày tết, lễ hội. Váy, áo càng mới đẹp, giàu hoa văn sặc sỡ thì càng thể hiện sự duyên dáng, khéo léo đảm đang của người con gái dân tộc vùng cao.. Màu chủ đạo của sản phẩm là những gam màu mạnh: xanh, đỏ, vàng... nổi bật, mang ước vọng lạc quan về cuộc sống. Thổ cẩm cũng có hồn vì nó thể hiện tâm trạng của người mặc. Khi vui, dải hoa văn sinh động, sắc nét; khi buồn, đôi chỗ còn chuệch choạc. Tài sản quý nhất trong mỗi gia đình là chiếc khung dệt cá nhân. Khung dệt đơn giản làm từ các thanh gỗ, thanh tre, thanh nứa kết hợp lại.
Các công đoạn dệt thổ cẩm hoàn toàn được thực hiện bằng phương pháp thủ công, từ khâu rồng nguyên liệu (đay, gai, bông) đến khâu khéo sợi, nhuộm màu, thêu dệt và bố trí hoa văn. Nguyên liệu chính để dệt nên những tấm thổ cẩm là sợi bông nhuộm chàm và tơ tằm đã được nhuộm màu. Đây là công việc mất rất nhiều công sức vì thổ cẩm phải dệt hoàn toàn bằng phương pháp dệt thủ công và có nhiều hoa văn, mỗi tấm thổ cẩm phải mất từ 9 đến 10 ngày, thậm chí cả tháng trời
Thổ cầm dệt bằng tay bao giờ cũng dày dặn hơn và quan trọng là nó chứa đựng cái hồn của người dệt. Mỗi thợ dệt cũng chính là một hoạ sĩ trang trí; sự tinh tế và sáng tạo của người thợ hiện lên rõ nét qua từng sản phẩm.
 
9.Tranh Đông Hồ
Nhắc tới tranh dân gian Việt Nam không thể không nói tới dòng tranh khắc gỗ Đông Hồ. Dòng tranh này ra đời từ khoảng thế kỷ 17 và phát triển cho đến nửa đầu thế kỷ 20 sau đó suy tàn dần. Mang trong mình những nét tinh túy riêng với những giá trị văn hóa to lớn. Những khác biệt của dòng tranh này so với cách dòng tranh khác được thể hiện từ những khâu như vẽ mẫu, khác bản in, sản xuất và chế biến màu cho đến in vẽ tranh. Đây là dòng tranh khắc ván, sử dụng ván gỗ để in tranh, tranh có bao nhiêu màu thì có bấy lần in.
Dòng tranh này có đề tài rất phong phú, nó phản ảnh hầu như tất cả những gì diễn ra trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày cũng như những mối quan hệ xã hội ở miền nông thôn Bắc Bộ. Từ những gì dân dã nhất như hái dừa, đánh ghen, gà trống,... cho tới những bức tranh thờ: Phú Quý, Nhân Nghĩa...
Do đề tài gần gũi tranh Đông Hồ đã được người dân đón nhận và sớm đi vào đời sống văn hoá của họ. Mỗi khi Tết đến dường như hầu hết các gia đình ở nông thôn miền Bắc đều có treo một vài tờ tranh Đông Hồ. Cùng với thời gian, với sức mạnh mang trong mình, tranh Đông Hồ ngày càng lan tỏa ra các vùng xung quanh, để rồi nó đã trở thành một phần không thể thiếu của đời sông văn hóa tinh thần của người dân.
Ngoài các đặc điểm về đường nét và bố cục, nét dân gian của tranh Đông Hồ còn nằm ở màu sắc và chất liệu giấy in. Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ (hồ được nấu từ bột gạo tẻ, hoặc gạo nếp, có khi nấu bằng bột sắn - hồ dùng để quét nền tranh thường được nấu loãng từ bột gạo tẻ hoặc bột sắn, hồ nấu từ bột nếp thường dùng để dán) rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy dó. Chổi lá thông tạo nên những ganh chạy theo đường quét và vỏ điệp tự nhiên cho màu trắng với ánh lấp lánh những mảnh điệp nhỏ dưới ánh sáng, có thể pha thêm màu khác vào hồ trong quá trình làm giấy điệp. Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên từ cây cỏ như đen (than xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe), đỏ (sỏi son, gỗ vang), v.v. Đây là những màu khá cơ bản, không pha trộn và vì số lượng màu tương ứng với số bản khắc gỗ, nên thường thường tranh Đông Hồ chỉ dùng tới 4 màu mà thôi.

11.Gốm Bát Tràng
Theo ký ức và tục lệ dân gian thì trong số các dòng họ ở Bát Tràng, có dòng họ Nguyễn Ninh Tràng. Có ý kiến cho rằng Nguyễn Ninh Tràng là họ Nguyễn ở trường Vĩnh Ninh, một lò gốm ở Thanh Hoá, nhưng chưa có tư liệu xác nhận. Gia phả một số dòng họ ở Bát Tràng như họ Lê, Vương, Phạm, Nguyễn... ghi nhận rằng tổ tiên xưa từ Bồ Bát di cư ra đây (Bồ Bát là Bồ Xuyên và Bạch Bát). Vào thời Hậu Lê khoảng cuối thế kỉ thứ 14 - đầu thế kỉ 15 và đầu thời Nguyễn, xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoá Ngoại. Ngày nay, Bồ Xuyên và Bạch Bát là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, vùng này có loại đất sét trắng rất thích hợp với nghề làm gốm. Theo truyền thuyết và gia phả một số họ như họ Vũ ở Bồ Xuyên, ngày xưa cư dân Bồ Bát chuyên làm nghề gốm từ lâu đời. Điều này được xác nhận qua dấu tích của những lớp đất nung và mảnh gốm ken dày đặc tìm thấy nhiều nơi ở vùng này.
Năm 1010, vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, Thăng Long trở thành trung tâm chính trị của nước Đại Việt. Do nhu cầu phát triển của kinh thành, nhiều thương nhân, thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long hành nghề và lập nghiệp. Sự ra đời và phát triển của Thăng Long đã tác động mạnh đến hoạt động kinh tế của các làng xung quanh, trong đó có làng Bát Tràng. Đặc biệt vùng này lại có nhiều đất sét trắng, một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm. Một số thợ gốm Bồ Bát đã di cư ra đây cùng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường (phường Đất Trắng). Những đợt di cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng .

12. Khảm Trai Chuông Ngọ
Làng Ngọ xưa là Phường Ngọ, một làng nghề khảm trai truyền thống, làng có từ lâu đời, nhà thờ cụ tổ nghề khảm đã được Bộ văn hóa xếp hạng di tích lịch sử năm 1996. Chuông Ngọ là làng nghề có lịch sử nghìn năm mang sắc thái văn hoá của vùng đất chiêm trũng ở đồng bằng Bắc bộ. Nét nổi bật của tranh khảm trai Chuông Ngọ là những mảnh trai không vỡ, luôn phẳng, đục gắn xuống gỗ rất khít. Từ tủ khảm, giường khảm cho đến các sản phẩm đơn giản của cuộc sống như bàn cờ, tranh treo tường...
Theo truyền thuyết và thần phả đình làng Chuông Ngọ thì nghề khảm trai có ở Chuyên Mỹ từ rất sớm, khoảng thế kỷ XI-XIII, do ông tổ nghề là Trương Công Thành, một tướng tài đời Lý gây dựng nên.Giai đoạn chiến tranh, có lúc nghề tưởng như mai một, đến năm 1954, giải phóng miền bắc, xã khôi phục lại nghề khảm trai, sản xuất các sản phẩm khảm trai, sơn mài lên các sản phẩm gỗ dán xuất khẩu cho các nước Liên Xô, Ba Lan...
Đặc biệt 30 năm trở lại đây, do nhu cầu của thị trường, nghề khảm trai ở Chương Mỹ phát triển mạnh, cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ tinh xảo, hiếm nơi nào có được.Nguyên liệu dùng cho nghề khảm trai ở Chuông Ngọ gồm đủ loại cả trong nước và nhập của nước ngoài, hiện tại nguyên liệu vỏ ốc nhập ngoại từ các nước như Hongkong, Singapore, Indonesia... đang được khách hàng ưa chuộng.Để làm ra một sản phẩm khảm trai phải mất khá nhiều thời gian và công sức, bắt buộc phải qua 5-6 công đoạn, vẽ mẫu, cắt theo họa tiết mẫu, dán miếng cắt đó vào gỗ và đục theo các họa tiết, sau đó dán miếng trai, dùng đá mài mài phẳng và dùng dao bằng thép tách tỉa ra các họa tiết nhỏ, dùng giấy ráp đánh cho nổi họa tiết lên. Cuối cùng toàn bộ sản phẩm được đánh vécni cho bóng lên để họa tiết nổi lên sống động như một bức tranh.
Sản phẩm khảm trai ở Chuông Ngọ có đủ loại từ tủ, sập, bàn ghế, đến câu đối, hoành phi trong nhà thờ, đình đền; những bức tranh treo tường phỏng theo các tích trong truyện Tam Quốc và các truyện cổ và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ khách du lịch.


Với lịch sử 1.000 năm, trải qua bao sóng gió, thăng trầm, nghề khảm trai Chuông Ngọ được người dân xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, Hà Nội, đời này qua đời khác, tiếp tục lưu truyền và phát triển, tạo nên sức sống bền bỉ cho cho một làng nghề cổ. Sau những biến cố của làng nghề thì giờ đây người dân đã có thể sống được với nghề khảm trai, khảm ốc đã có truyền thống hàng nghìn năm. Đó thực sự là một tín hiệu đáng mừng cho Chuôn Ngọ.
13. Gỗ Lũa
Gỗ lũa là phần lõi bên trong của các gốc cây cổ thụ khô. Là phần gốc, lại là lõi nên gỗ lũa rất cứng và không bao giờ bị mối mọt, mục nát. Từ đây, những nghệ nhân với trí tuệ sáng tạo và bàn tay khéo léo đã làm nên những tác phẩm nghệ thuật độc đáo.
Gỗ lũa kết hợp với cây cảnh, non bộ là thú chơi và thưởng thức nghệ thuật của ông cha ta truyền lại. Gỗ đẹp nhất là những cây nằm ở đáy các dòng suối hay ngang dòng nước chảy, được nước bào mòn tự nhiên, bóng và bền. Lũa cây ở các khu rừng sâu, đèo núi có nhiều chủng loại, dáng thế, màu sắc. Điêu khắc gỗ lũa là công việc đòi hỏi lòng kiên nhẫn và sự say mê cao độ. Nghệ nhân trước tiên phải có óc sáng tạo, trí tưởng tượng phong phú để có thể nhận ra những hình ảnh sống động từ những rễ cây thô mộc, xấu xí.
Sau khi có nguyên liệu, với những gốc còn tươi phải phơi khô, bớt nhựa chừng 1 - 2 tháng rồi gọt bỏ phần vỏ ngoài và phần mềm sát vỏ, chỉ lấy phần lõi cây, để làm lũa. Quá trình hình thành ý tưởng đòi hỏi người thợ phải cân nhắc, suy ngẫm để lựa chọn hình dáng, thế lũa. Gỗ lũa rất cứng, từng nhát dao, đường khắc của nghệ nhân là một sự kiên nhẫn, tỉ mẩn gọt giũa, có khi phải mất mấy ngày trời chỉ để chuốt một cái đuôi rắn đang cuốn vào thân cây hay hình một đám mây trôi... Làm lũa gỗ không giống như sản xuất đồ gỗ thông thường. Mỗi sản phẩm là một tác phẩm đơn chiếc, có thời gian và cách thức khác nhau, hầu hết làm bằng phương pháp thủ công, không dùng máy móc để sản xuất hàng loạt được. Người làm gỗ lũa ngoài trí tưởng tượng, khiếu tạo hình, còn cần có đôi bàn tay khéo léo để biến ý tưởng thành hiện thực. Chính vì vậy, giá thành sản phẩm không phụ thuộc vào kích cỡ mà ở giá trị nghệ thuật, sự kết tinh từ bàn tay, khối óc con người. Bởi vậy, có tác phẩm giá vài trăm ngàn đồng, có tác phẩm lên tới vài triệu đồng, có khi là vô giá. Người chiêm ngưỡng gỗ lũa có thể thoả trí tưởng tượng, suy luận những hình thù trên gỗ lũa.

|